Làm việc theo cặp. Đọc đoạn văn dưới đây về một vật liệu mới do các nhà khoa học tạo ra.
Graphene, một dạng carbon hai chiều (2D), được coi là vật liệu bền nhất đã biết. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy khó tìm được những ứng dụng ba chiều (3D) hữu ích cho graphene.
Một nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã phát triển một vật liệu cực bền và nhẹ bằng cách kết hợp các mảnh graphene dưới nhiệt độ và áp suất cao. Vật liệu mới có cấu trúc tương tự một số loài san hô và các sinh vật hiển vi gọi là tảo cát. Vật liệu giống bọt biển vì chứa đầy các khoảng trống nhỏ. Nó có khối lượng riêng rất thấp và bền gấp mười lần thép.
Các phép thử cho thấy vật liệu mới chịu được lực kéo và áp suất lớn. Những tính chất này, cùng với cấu trúc xốp, có thể khiến vật liệu trở nên hữu ích trong các ứng dụng như lọc nước và xử lí hóa chất.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy độ bền của dạng 3D đến từ hình dạng độc đáo chứ không phải bản thân chất tạo nên nó. Điều này gợi ý rằng có thể dùng những chất khác nhau để tạo ra các vật liệu bền, nhẹ bằng cách sử dụng các hình dạng tương tự.
*Phỏng theo MIT News*
Ghi một ưu điểm và một nhược điểm của graphene vào bảng.
Làm việc theo cặp. Đọc đoạn văn dưới đây về một vật liệu mới do các nhà khoa học tạo ra.
Graphene, một dạng carbon hai chiều (2D), được coi là vật liệu bền nhất đã biết. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy khó tìm được những ứng dụng ba chiều (3D) hữu ích cho graphene.
Một nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã phát triển một vật liệu cực bền và nhẹ bằng cách kết hợp các mảnh graphene dưới nhiệt độ và áp suất cao. Vật liệu mới có cấu trúc tương tự một số loài san hô và các sinh vật hiển vi gọi là tảo cát. Vật liệu giống bọt biển vì chứa đầy các khoảng trống nhỏ. Nó có khối lượng riêng rất thấp và bền gấp mười lần thép.
Các phép thử cho thấy vật liệu mới chịu được lực kéo và áp suất lớn. Những tính chất này, cùng với cấu trúc xốp, có thể khiến vật liệu trở nên hữu ích trong các ứng dụng như lọc nước và xử lí hóa chất.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy độ bền của dạng 3D đến từ hình dạng độc đáo chứ không phải bản thân chất tạo nên nó. Điều này gợi ý rằng có thể dùng những chất khác nhau để tạo ra các vật liệu bền, nhẹ bằng cách sử dụng các hình dạng tương tự.
Làm việc theo cặp. Đọc đoạn văn dưới đây về một vật liệu mới do các nhà khoa học tạo ra.
Graphene, một dạng carbon hai chiều (2D), được coi là vật liệu bền nhất đã biết. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy khó tìm được những ứng dụng ba chiều (3D) hữu ích cho graphene.
Một nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã phát triển một vật liệu cực bền và nhẹ bằng cách kết hợp các mảnh graphene dưới nhiệt độ và áp suất cao. Vật liệu mới có cấu trúc tương tự một số loài san hô và các sinh vật hiển vi gọi là tảo cát. Vật liệu giống bọt biển vì chứa đầy các khoảng trống nhỏ. Nó có khối lượng riêng rất thấp và bền gấp mười lần thép.
Các phép thử cho thấy vật liệu mới chịu được lực kéo và áp suất lớn. Những tính chất này, cùng với cấu trúc xốp, có thể khiến vật liệu trở nên hữu ích trong các ứng dụng như lọc nước và xử lí hóa chất.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy độ bền của dạng 3D đến từ hình dạng độc đáo chứ không phải bản thân chất tạo nên nó. Điều này gợi ý rằng có thể dùng những chất khác nhau để tạo ra các vật liệu bền, nhẹ bằng cách sử dụng các hình dạng tương tự.
*Phỏng theo MIT News*
Đoạn văn có thiên lệch không? Em dựa vào đâu để biết?
Làm việc theo cặp. Đọc đoạn văn dưới đây về một vật liệu mới do các nhà khoa học tạo ra.
Graphene, một dạng carbon hai chiều (2D), được coi là vật liệu bền nhất đã biết. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy khó tìm được những ứng dụng ba chiều (3D) hữu ích cho graphene.
Một nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã phát triển một vật liệu cực bền và nhẹ bằng cách kết hợp các mảnh graphene dưới nhiệt độ và áp suất cao. Vật liệu mới có cấu trúc tương tự một số loài san hô và các sinh vật hiển vi gọi là tảo cát. Vật liệu giống bọt biển vì chứa đầy các khoảng trống nhỏ. Nó có khối lượng riêng rất thấp và bền gấp mười lần thép.
Các phép thử cho thấy vật liệu mới chịu được lực kéo và áp suất lớn. Những tính chất này, cùng với cấu trúc xốp, có thể khiến vật liệu trở nên hữu ích trong các ứng dụng như lọc nước và xử lí hóa chất.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy độ bền của dạng 3D đến từ hình dạng độc đáo chứ không phải bản thân chất tạo nên nó. Điều này gợi ý rằng có thể dùng những chất khác nhau để tạo ra các vật liệu bền, nhẹ bằng cách sử dụng các hình dạng tương tự.
*Phỏng theo MIT News*
Nêu một ảnh hưởng mà vật liệu mới này có thể tạo ra đối với cuộc sống hiện đại. Tìm hiểu thêm nếu em cần thông tin. Viết suy nghĩ của em.
Làm việc theo cặp. Đọc đoạn văn dưới đây về một vật liệu mới do các nhà khoa học tạo ra.
Graphene, một dạng carbon hai chiều (2D), được coi là vật liệu bền nhất đã biết. Tuy nhiên, các nhà khoa học thấy khó tìm được những ứng dụng ba chiều (3D) hữu ích cho graphene.
Một nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã phát triển một vật liệu cực bền và nhẹ bằng cách kết hợp các mảnh graphene dưới nhiệt độ và áp suất cao. Vật liệu mới có cấu trúc tương tự một số loài san hô và các sinh vật hiển vi gọi là tảo cát. Vật liệu giống bọt biển vì chứa đầy các khoảng trống nhỏ. Nó có khối lượng riêng rất thấp và bền gấp mười lần thép.
Các phép thử cho thấy vật liệu mới chịu được lực kéo và áp suất lớn. Những tính chất này, cùng với cấu trúc xốp, có thể khiến vật liệu trở nên hữu ích trong các ứng dụng như lọc nước và xử lí hóa chất.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy độ bền của dạng 3D đến từ hình dạng độc đáo chứ không phải bản thân chất tạo nên nó. Điều này gợi ý rằng có thể dùng những chất khác nhau để tạo ra các vật liệu bền, nhẹ bằng cách sử dụng các hình dạng tương tự.
*Phỏng theo MIT News*
Theo đoạn văn đã cho, những tính chất nào của vật liệu thường hữu ích?
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Làm việc theo nhóm. Lập kế hoạch và tiến hành một phép thử công bằng bằng các vật liệu đã cho để trả lời: Loại giấy nào bền nhất?
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Xác định các biến và yếu tố kiểm soát trong thí nghiệm. Biến độc lập (yếu tố em sẽ thay đổi) là:
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Xác định các biến và yếu tố kiểm soát trong thí nghiệm. Biến phụ thuộc (đại lượng em sẽ đo) là:
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Xác định các biến và yếu tố kiểm soát trong thí nghiệm. Các biến kiểm soát (những yếu tố em sẽ giữ như nhau) là:
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Viết các bước em sẽ làm để thực hiện thí nghiệm.
- Em sẽ bố trí dụng cụ như thế nào? Em sẽ thực hiện những biện pháp an toàn nào? Hãy quyết định cách làm.
- Em sẽ quan sát điều gì? Cần bao nhiêu phép đo? Xem bảng ở trang tiếp theo.
Bảng kết quả có bốn hàng cho các loại giấy và các cột lần thử đầu, lần thử cuối và số bi trung bình.
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Nhờ giáo viên kiểm tra kế hoạch rồi tiến hành. Dùng bảng để ghi kết quả.
| Loại giấy | Số bi: Lần thử đầu | Số bi: Lần thử cuối | Số bi trung bình |
|---|---|---|---|
| | | | |
| | | | |
| | | | |
| | | | |
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Viết kết luận. Loại giấy nào bền nhất và loại nào yếu nhất? Dùng kết quả thí nghiệm độ bền giấy của em.
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Viết kết luận. Em dựa vào đâu để xác định loại giấy bền nhất và yếu nhất trong thí nghiệm?
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Em đã quyết định số lần lặp lại mỗi phép đo như thế nào?
Khảo sát độ bền của các mẫu giấy khác nhau. Dụng cụ, vật liệu: mỗi loại 5 dải giấy thuộc 4 loại giấy khác nhau (cùng kích thước, khoảng 20 cm × 5 cm), dụng cụ bấm lỗ, kẹp giấy, hộp sữa chua, dây và các viên bi.
Đánh giá thí nghiệm của em và đề xuất cách cải thiện.
Vật liệu: Ba ống nghiệm, nước, đinh sắt, đinh nhựa, đinh có lớp phủ.
1. Làm việc theo cặp hoặc nhóm nhỏ.
2. Đổ nước đến nửa mỗi ống nghiệm.
3. Đặt một loại đinh khác nhau (đinh sắt, đinh nhựa và đinh có lớp phủ) vào mỗi ống nghiệm.
4. Ghi nhãn từng ống nghiệm.
5. Để đinh trong nước trong 1 tuần.
6. Quan sát hằng ngày và ghi lại mọi thay đổi.
Nhãn hình: test tube = ống nghiệm; water = nước; iron nail = đinh sắt; plastic nail = đinh nhựa; coated nail = đinh có lớp phủ.
Vật liệu: Ba ống nghiệm, nước, đinh sắt, đinh nhựa, đinh có lớp phủ.
1. Làm việc theo cặp hoặc nhóm nhỏ.
2. Đổ nước đến nửa mỗi ống nghiệm.
3. Đặt một loại đinh khác nhau (đinh sắt, đinh nhựa và đinh có lớp phủ) vào mỗi ống nghiệm.
4. Ghi nhãn từng ống nghiệm.
5. Để đinh trong nước trong 1 tuần.
6. Quan sát hằng ngày và ghi lại mọi thay đổi.
Nhãn hình: test tube = ống nghiệm; water = nước; iron nail = đinh sắt; plastic nail = đinh nhựa; coated nail = đinh có lớp phủ.
Vật liệu: Ba ống nghiệm, nước, đinh sắt, đinh nhựa, đinh có lớp phủ.
1. Làm việc theo cặp hoặc nhóm nhỏ.
2. Đổ nước đến nửa mỗi ống nghiệm.
3. Đặt một loại đinh khác nhau (đinh sắt, đinh nhựa và đinh có lớp phủ) vào mỗi ống nghiệm.
4. Ghi nhãn từng ống nghiệm.
5. Để đinh trong nước trong 1 tuần.
6. Quan sát hằng ngày và ghi lại mọi thay đổi.
Nhãn hình: test tube = ống nghiệm; water = nước; iron nail = đinh sắt; plastic nail = đinh nhựa; coated nail = đinh có lớp phủ.
Có kết quả nào trong thí nghiệm khác với dự đoán của em không? Nếu có, hãy đề xuất lời giải thích cho kết quả bất ngờ đó.