Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Cứ cách một ngày, quan sát các đĩa Petri mà không dùng kính hiển vi. Tự ghi lại quan sát bằng lời hoặc hình vẽ. Sau một tuần, quan sát mỗi đĩa bằng kính lúp. Em thấy gì?
Ghi kết quả của cả năm đĩa vào Ngày 3, Ngày 5 và Ngày 7.
| Đĩa Petri | Ngày 3 | Ngày 5 | Ngày 7 |
|---|---|---|---|
| 1 Đối chứng | | | |
| 2 Bên trong miệng | | | |
| 3 Đầu ngón tay chưa rửa | | | |
| 4 Đầu ngón tay sạch | | | |
| 5 Bề mặt tự chọn: ___ | | | |
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Xếp các đĩa Petri theo số vi sinh vật sinh trưởng trong mỗi đĩa, không tính đĩa đối chứng. Dùng thứ hạng 1 (ít nhất), 2, 3 và 4 (nhiều nhất).
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Em cho rằng những loại vi sinh vật nào đã sinh trưởng trong các đĩa Petri?
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Vì sao em cho rằng vi sinh vật có thể sinh trưởng trên thạch?
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Trong các cuộc khảo sát khó thực hiện phép thử công bằng, ta thường dùng đối chứng. Đĩa Petri ghi nhãn “đối chứng” có mục đích gì?
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Cuộc khảo sát này cho chúng ta biết điều gì về vi sinh vật quanh ta?
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Kết quả đáng tin cậy khi em có thể tin rằng chúng đúng. Xem thứ tự em đã xếp các đĩa Petri theo mức sinh trưởng. Nêu và giải thích một cách cải tiến cuộc khảo sát để thứ tự này đáng tin cậy hơn.
Năm đĩa Petri có thạch dinh dưỡng được ghi nhãn 1 Đối chứng (không mở), 2 Bên trong miệng, 3 Đầu ngón tay chưa rửa, 4 Đầu ngón tay sạch và 5 Một bề mặt tự chọn. Quan sát qua nắp đậy; không mở lại các đĩa đang có vi sinh vật sinh trưởng. Giáo viên xử lí việc thải bỏ an toàn.
Đề xuất và giải thích một cách khác để thay đổi cuộc khảo sát nhằm tìm hiểu hiệu quả của các phương pháp làm sạch khác nhau.
Trong một khu rừng có rất nhiều lá chết rụng xuống. Vai trò của sinh vật phân giải trong tình huống này là gì? Đánh dấu hai đáp án đúng.
1. Sinh vật phân giải phân hủy lá để giải phóng chất dinh dưỡng vào đất.
2. Sinh vật phân giải sử dụng chất dinh dưỡng để tạo ra các chất mới mà chúng hấp thụ từ đất.
3. Sinh vật phân giải lấy chất dinh dưỡng cho mình nhờ phân hủy lá.
4. Sinh vật phân giải sử dụng lá để quang hợp.
Dầu là vật chất hữu cơ, hình thành từ xác sinh vật cách đây hàng triệu năm. Ngày nay, dầu tràn trên biển là vấn đề lớn vì gây hại cho sinh vật trong hệ sinh thái biển. Cần làm sạch dầu tràn nhanh chóng. Một cách là sử dụng vi khuẩn “ăn” dầu.
Đề xuất hai cách mà dầu tràn gây hại cho hệ sinh thái biển. Em có thể tìm hiểu thêm để trả lời.
Dầu là vật chất hữu cơ, hình thành từ xác sinh vật cách đây hàng triệu năm. Ngày nay, dầu tràn trên biển là vấn đề lớn vì gây hại cho sinh vật trong hệ sinh thái biển. Cần làm sạch dầu tràn nhanh chóng. Một cách là sử dụng vi khuẩn “ăn” dầu.
Dầu là vật chất hữu cơ, hình thành từ xác sinh vật cách đây hàng triệu năm. Ngày nay, dầu tràn trên biển là vấn đề lớn vì gây hại cho sinh vật trong hệ sinh thái biển. Cần làm sạch dầu tràn nhanh chóng. Một cách là sử dụng vi khuẩn “ăn” dầu.
Vi khuẩn “ăn dầu” phân giải dầu có thể làm sạch dầu tràn như thế nào? Hãy nghĩ về các quá trình liên quan.
Làm việc theo cặp. Em sẽ nghiên cứu hai miếng bánh mì. Một miếng khô. Miếng còn lại được thêm nước để làm ẩm. Thảo luận điều gì có thể xảy ra nếu để cả hai miếng ở cùng môi trường ấm trong vài ngày.
Hai miếng bánh mì cùng loại được giữ trong hai túi trong suốt kín riêng biệt ở cùng một nơi ấm. Một miếng khô, miếng kia được thêm năm giọt nước. Giả thuyết là một lời giải thích được đề xuất. Viết một giả thuyết có thể kiểm tra bằng hai miếng bánh mì.
Hai miếng bánh mì cùng loại được giữ trong hai túi trong suốt kín riêng biệt ở cùng một nơi ấm. Một miếng khô, miếng kia được thêm năm giọt nước. Dùng giả thuyết của em để dự đoán điều gì sẽ xảy ra nếu giả thuyết đúng. Hoàn thành bảng gồm Điều kiện (Ẩm; Khô), Dự đoán và Lý do.
Hai miếng bánh mì cùng loại được giữ trong hai túi trong suốt kín riêng biệt ở cùng một nơi ấm. Một miếng khô, miếng kia được thêm năm giọt nước. Dự đoán điều gì sẽ xảy ra với cả hai miếng bánh sau vài ngày.
Hai miếng bánh mì cùng loại được giữ trong hai túi trong suốt kín riêng biệt ở cùng một nơi ấm. Một miếng khô, miếng kia được thêm năm giọt nước. Quan sát bánh hằng ngày trong năm ngày. Tìm nấm mốc và những thay đổi của nấm mốc. Nếu cần, dùng kính lúp để hỗ trợ quan sát. Viết hoặc vẽ quan sát vào bảng: Ngày 1, 2, 3, 4, 5; Bánh khô; Bánh ẩm. Không mở túi chứa bánh mốc.